BỘ CẮT CÁNH HIỆN TRƯỜNG - DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM CẮT CÁNH HIỆN TRƯỜNG
THÔNG SỐ KĨ THUẬT
BỘ CẮT CÁNH HIỆN TRƯỜNG - DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM CẮT CÁNH HIỆN TRƯỜNG
Model: ZSZ-1
Xuất xứ: Trung Quốc
Kích thước cánh cắt: 75 x 150mm & 50 x 100mm
Kích thước cần dẫn hướng: 30 x 1040mm
Momen xoắn của vòng thép: 80N.m
Cấp chính xác: 0,55N.m Kích thước: 430 x 910 x 220mm
Trọng lượng khoảng: 40kg
Kèm lưỡi cắt tiêu chuẩn và giá đỡ (chưa có cần nối dài)
Model: ZSZ-1
Xuất xứ: Trung Quốc
Kích thước cánh cắt: 75 x 150mm & 50 x 100mm
Kích thước cần dẫn hướng: 30 x 1040mm
Momen xoắn của vòng thép: 80N.m
Cấp chính xác: 0,55N.m Kích thước: 430 x 910 x 220mm
Trọng lượng khoảng: 40kg
Kèm lưỡi cắt tiêu chuẩn và giá đỡ (chưa có cần nối dài)
Giá bán :
Liên hệ
Bộ cắt cánh hiện trường là thiết bị dùng để thí nghiệm xác định sức kháng cắt không thoát nước của đất ở hiện trường, thí nghiệm được thực hiện trong ống bao hoặc trong hố khoan. Khi đưa cánh đến độ sâu thí nghiệm, tiến hành xoay cánh cắt đất với một tốc độ thích hợp, phản lực cắt đất được đo bằng vòng lực ở phía trên. Kết quả sau cùng là cường độ kháng cắt của đất ở độ sâu thí nghiệm.
Đối với thí nghiệm cắt cánh trong hố khoan, cánh cắt được ấn xuống một độ sâu khoảng 3 lần đường kính cánh so với đáy hố khoan. Đối với thí nghiệm cắt trong ống bao, cánh được ấn ra khỏi đầu bảo vệ ở một độ sâu tương tự như cắt trong hố khoan.
Thí nghiệm cắt cánh hiện trường áp dụng đối với địa tầng đất sét có trạng thái chảy đến dẻo cứng, tùy theo trạng thái của đất mà kích thước cánh cắt được thay đổi cho phù hợp.
Thí nghiệm cắt cánh hiện trường xác định sức kháng cắt không thoát nước (Su) của đất, được sử dụng cho các loại đất dính mềm yếu, bão hoà nước. Thí nghiệm này không áp dụng đối với đất có khả năng thoát nước nhanh (như đất loại cát, đất hòn lớn), đất trương nở, đất lẫn nhiều mảnh đá, vỏ sò. Thí nghiệm cắt cánh hiện trường thường kết hợp cùng công tác khoan xoay lấy mẫu. Thí nghiệm được thực hiện trong hoặc ngoài các lỗ khoan (ấn trực tiếp từ mặt đất). Thí nghiệm cắt cánh được sử dụng nhiều trong công tác khảo sát nền đường đất yếu; khảo sát phục vụ thi công các phần ngầm của công trình dân dụng.
Đối với thí nghiệm cắt cánh trong hố khoan, cánh cắt được ấn xuống một độ sâu khoảng 3 lần đường kính cánh so với đáy hố khoan. Đối với thí nghiệm cắt trong ống bao, cánh được ấn ra khỏi đầu bảo vệ ở một độ sâu tương tự như cắt trong hố khoan.
Thí nghiệm cắt cánh hiện trường áp dụng đối với địa tầng đất sét có trạng thái chảy đến dẻo cứng, tùy theo trạng thái của đất mà kích thước cánh cắt được thay đổi cho phù hợp.
Thí nghiệm cắt cánh hiện trường xác định sức kháng cắt không thoát nước (Su) của đất, được sử dụng cho các loại đất dính mềm yếu, bão hoà nước. Thí nghiệm này không áp dụng đối với đất có khả năng thoát nước nhanh (như đất loại cát, đất hòn lớn), đất trương nở, đất lẫn nhiều mảnh đá, vỏ sò. Thí nghiệm cắt cánh hiện trường thường kết hợp cùng công tác khoan xoay lấy mẫu. Thí nghiệm được thực hiện trong hoặc ngoài các lỗ khoan (ấn trực tiếp từ mặt đất). Thí nghiệm cắt cánh được sử dụng nhiều trong công tác khảo sát nền đường đất yếu; khảo sát phục vụ thi công các phần ngầm của công trình dân dụng.

Cơ bản gồm các bộ phận sau:
- Cánh cắt: cấu tạo bởi 4 tấm thép cứng, hàn nối thành hình chữ thập, gắn liền với đoạn cần ty cứng. Chiều cao cánh (H) có cấu tạo bằng 2 lần bề rộng cánh (D). - Cần ty: là ống thép cứng có đường kính d = 20mm, dạng tròn hoặc lục lăng, dài 1m. Có hai cách nối cần ty là nối ren (dạng tròn) và nối khớp ngàm (dạng lục lăng). Cần ty dùng để quay cánh cắt và đo ngẫu lực xoắn.
- Ống chống: ống thép bảo vệ cần ty, đường kính D=44mm. Có loại thiết bị cắt cánh đơn giản không cần ống chống.
- Thiết bị đo: dùng để đo ngẫu lực.
Trình tự thí nghiệm:
- Bước 1: khoan tạo lỗ đến độ sâu cần thí nghiệm.
- Bước 2: ấn cánh cắt vào trong đất dưới đáy hố ít nhất một khoảng bằng 2 lần chiều cao cánh cắt.
- Bước 3: quay trục (bằng tay hoặc tự động), đọc và ghi ngẫu lực xoắn trên đồng lực. Kết quả này để tính trị số cực đại khi đất bị cắt (cumax). Vận tốc quay phải đủ nhanh để nước không thoát ra và thường từ 6 – 18 độ/phút.
- Bước 4: quay tiếp cánh cắt khoảng 10 vòng để đất bị cắt hoàn toàn. Tiến hành quay thí nghiệm tương tự như trên để xác định ngẫu lực cắt cực tiểu (đất ở trạng thái xáo trộn – cumin).
- Bước 5: tiếp tục ấn tiếp đến độ sâu tiếp theo và thí nghiệm tương tự. Khoảng cách giữa các lần thí nghiệm trong hố khoan từ 1 – 2m, tùy thuộc điều kiện địa chất.
- Cánh cắt: cấu tạo bởi 4 tấm thép cứng, hàn nối thành hình chữ thập, gắn liền với đoạn cần ty cứng. Chiều cao cánh (H) có cấu tạo bằng 2 lần bề rộng cánh (D). - Cần ty: là ống thép cứng có đường kính d = 20mm, dạng tròn hoặc lục lăng, dài 1m. Có hai cách nối cần ty là nối ren (dạng tròn) và nối khớp ngàm (dạng lục lăng). Cần ty dùng để quay cánh cắt và đo ngẫu lực xoắn.
- Ống chống: ống thép bảo vệ cần ty, đường kính D=44mm. Có loại thiết bị cắt cánh đơn giản không cần ống chống.
- Thiết bị đo: dùng để đo ngẫu lực.
Trình tự thí nghiệm:
- Bước 1: khoan tạo lỗ đến độ sâu cần thí nghiệm.
- Bước 2: ấn cánh cắt vào trong đất dưới đáy hố ít nhất một khoảng bằng 2 lần chiều cao cánh cắt.
- Bước 3: quay trục (bằng tay hoặc tự động), đọc và ghi ngẫu lực xoắn trên đồng lực. Kết quả này để tính trị số cực đại khi đất bị cắt (cumax). Vận tốc quay phải đủ nhanh để nước không thoát ra và thường từ 6 – 18 độ/phút.
- Bước 4: quay tiếp cánh cắt khoảng 10 vòng để đất bị cắt hoàn toàn. Tiến hành quay thí nghiệm tương tự như trên để xác định ngẫu lực cắt cực tiểu (đất ở trạng thái xáo trộn – cumin).
- Bước 5: tiếp tục ấn tiếp đến độ sâu tiếp theo và thí nghiệm tương tự. Khoảng cách giữa các lần thí nghiệm trong hố khoan từ 1 – 2m, tùy thuộc điều kiện địa chất.
Đang online : 5
Truy cập hôm qua : 699
Tổng truy cập : 1765233


